Thẩm Tự đặt một bó cúc họa mi xuống trước bia mộ.
Nắng cuối hè vẫn gay gắt, không một chút gió, không khí hầm hập như thiêu đốt mỗi nhịp thở. Xung quanh nghĩa trang, bóng cây rậm rạp xen lẫn tiếng ve kêu ra rả đến xé lòng, khiến lòng người thêm phiền muộn.
Cô khụy gối trước bó hoa, ngón tay lướt qua bức ảnh trên bia mộ, thẫn thờ trong giây lát.
“Chỉ là hai mạng người thấp kém thôi mà, nhà họ Hà tôi thiếu gì tiền! Đâm chết người chứ có phải đền không nổi đâu.”
“Cô là cái thá gì, thực sự tưởng động được vào tôi sao? Người ta bảo giết người phóng hỏa đeo đai vàng, sửa cầu vá đường không toàn thây. Thằng này hôm nay nói thẳng luôn đấy, cho dù tôi có say rượu, cố ý đâm chết người thì cô làm gì được tôi nào? Ai làm chứng?”
“Xúi quẩy thật, cầm tiền rồi thì cút mau đi! Đừng có đứng đây làm bẩn mắt tôi.”
Có những thứ dù có tự thôi miên bản thân thế nào cũng không thể quên được. Quá khứ đáng lẽ nên như một giấc mộng cũ, xóa sạch sau một nét bút, nhưng những âm thanh chói tai ấy cứ vảng vất bên tai như cơn ác mộng không thể xua tan.
Thẩm Tự lớn lên trong một gia đình bình dị.
Những năm 2000, Cảng đảo đã rũ bỏ lớp áo cũ để trở về. Dưới ánh đèn neon nhập nhẹm, những tấm biển quảng cáo loang lổ sắc màu đổ bóng xuống dòng người qua lại tấp nập. Năm đó, cô bị bỏ rơi nơi đầu ngõ của một con phố cũ kỹ vùng Vượng Giác, may mắn được một cặp vợ chồng nghèo nhặt về nuôi dưỡng.
Dù không phải con ruột của Thẩm Thư Thành và Ôn Dung, nhưng họ xem cô như báu vật, cả đời không sinh thêm con cái. Thẩm Thư Thành là một giáo viên hiểu biết về cổ vật, Ôn Dung từng là một đào hát vang danh một thời với đôi mắt đa tình nhưng không vướng bụi trần. Hai người tương kính như tân, đối đãi với cô vô cùng hiền hậu. Trong căn nhà nhỏ mang đậm nét Lĩnh Nam, cô đã trải qua mười mấy năm yên bình.